Công dụng của Địa hoàng trong điều trị tiểu đường

1135

Địa hoàng là một cây thuốc quý trong y học cổ truyền. Một cây thuốc mà cùng một rễ củ của nó cho ta hai vị thuốc là Sinh địa hoàng và Thục địa hoàng.

Còn có tên khoa học: Rehmannia glutinosa Libosch.

Thuộc họ Hoa mõm sói – Secrophulariaceae

Dia hoang

Dia hoang

    Mô tả về cây: Cây thảo sống nhiều nam cao 20-30cm, toàn cây có màu lông mềm và lông tiết màu tro trắng. Rễ mẫm lên thành củ. Lá mọc vòng ở gốc; phiến lá hình bầu dục, gốc thuôn, đầu tròn, dài 3-15cm, rộng 1.5-6cm, mép khía răng tròn không đều; gân lá hình mạng lưới nổi rất rõ ở mặt dưới làm cho lá bị rộp,chia lá thành những múi nhỏ. Hoa mọc thành chùm trên một cuống chung dài ở đầu cành. Đài và tràng đều hình chuông, tràng hơi cong dài 3-4cm, mặt ngoài tím đậm, mặt trong hơi vàng vói những đốm tím. 4 nhị, nhị trường. Quả hình trứng, nhiều hạt nhỏ.

Cay dia hoang

Cay dia hoang

    Đặc điểm sinh thái: Thích hợp với đất phù sa, đất thịt. Nhân giống bằng những mầm rễ, mỗi mầm dài 1-2cm. Sau khi trồng 6 tháng rưỡi có thể thu hoạch. Mỗi năm có thể thu hai vụ vào các tháng 2-3, và 8-9. Ra hoa tháng 4-5, có quả tháng 5-6.

    Khu vực phân bố: Loài cây của Trung Quốc. Từ năm 1958 nhập trồng ở nước ta. Hiện nay được phát triển trông ở nhiều nơi từ Bắc vào Nam.

    Bộ phận thường dùng: Rễ củ, thường được gọi là Địa hoàng.

      Chọn ngày nắng để đào củ. Củ Địa hoàng tươi hình thoi hay hình trụ cong queo, dễ bẻ gẫy, mặt ngoài mù vàng đỏ, có những vùng thắt lại chia củ thành từng khoanh. Trên các rãnh có vết mầm. Thùy theo cách chế biến, ta có Sinh địa hoàng và Thục địa hoàng.

     – Sinh địa: Củ Địa hoàng đã được chọn lựa, rồi rải vào lò sấy; sấy trong 6-7 ngày cho khô đều.

     – Thục địa: Củ Địa hoàng lấy về, ngâm nước, cạo sạch đất. Lấy những củ vụn nát nấu lấy nước, nước đó tẩm những củ đã được chọn rồi đem đồ, đồ xong lại phơi, phơi xong lại tẩm. Tẩm và đồ như vậy được 9 lần, khi màu thục đen nhánh là được. Khi nấu không dùng nồi kim loại như đồng, sắt. Tùy từng nơi, người ta áp dụng các chế biến khác nhau, có thể dùng rượu nấu rồi lại dùng nước gừng ngâm, lại  nấu tiếp cho tới khi có thục địa màu đen. Do cách chế biến mà tính chất của Sinh địa và Thục địa có khác nhau.

     Tính vị, tác dụng và dược liệu: Địa hoàng tươi có vị ngọt, đắng tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, mát máu. Sinh địa hoàng (Củ địa hoàng khô) có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng tư âm dưỡng huyết. Thục địa hoàng có vị ngọt, mùi thơm, tính hơi ôn; có tác dụng nuôi thận, dưỡng âm, bổ huyết, làm đen râu tóc.

       Người ta đã chứng minh được tác dụng chống đường huyết, tác dụng cầm máu, lợi tiểu, kháng sinh của Địa hoàng.

    Công dụng và liều dùng:

   – Sinh địa hoàng dùng chữa bệnh huyết hư phát nóng, thổ huyết, băng huyết, chảy máu cam, kinh nguyệt không đều, động thai; bệnh thương hàn, ôn dịch, phát ban chẩn, cổ họng sưng đau, huyết nhiệt, tân dịch khô. Ngày dùng 8-16g, có thể dùng đến 40g.

   – Thục địa dùng trị thận âm suy sinh ra các chứng nóng âm ỉ, bệnh tiêu khát (đái đường), đau họng, khí suyễn (khó thở), hư hỏa bốc lên sinh xuất huyết, làm sáng mắt, điều kinh, bổ huyết, sinh tinh, làm cơ thể tráng kiện. Ngày dùng 12-40g.

Cu dia hoang

Cu dia hoang

  BÀI THUỐC TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:

  1. Sinh địa hoàng, Thạch cao, mỗi vị 40g, thổ hoàng liên 10g. Sắc uống (1000 CT và ĐVLT 1:780).

  2. Sinh địa 30g, Hoài sơn 30g, Hoàng kỳ 15g, Sơn thù du 15g, Lá lách lợn (tụy) 9g. Sắc nước uống (CTBT và BD)

  3. Thục địa 9g, Đảng sâm 12g, Hoài sơn16g, Ngũ vị tử 6g. Sắc uống (CT, BT và BD).




Leave a Reply